Giai thoại – Câu chuyện khoa học

Giai thoại về sự đãng trí và nhanh trí của các nhà Toán học

Toán học thật lý thú, ẩn chứa trong nó biết bao bí ẩn, những con người làm nên toán học cũng không kém phần diệu kì.

Newton
Có người hỏi Newton:
-Thưa ông, muốn hình thành 1 phát minh khoa học có cần nhiều thời gian lắm ko?
-Ko! Đối với tôi rất dễ dàng! Có điều là trước đó, tôi phải suy nghĩ rất lâu!

Euclide:
Có 1 lần, sau khi giảng về phân số, thầy giáo hỏi Ơclít:
– Nếu có người đưa cho em 2 quả táo to bằng nhau, 1 quả nguyên và 1 quả đã bổ làm đôi. Người đó bảo em hãy chọn 1 phần, hoặc là quả táo nguyên, hoặc là quả táo đã bổ ra làm đôi, em chọn phần nào?
Ơclít trả lời:
-Thưa thầy em sẽ chọn quả táo đã bổ ra làm đôi ạ!
Thầy ngạc nhiên hỏi lại:
-Thế em ko biết 2 nửa quả táo cũng chỉ bằng 1 quả táo thôi hay sao?
Ơclít nhanh trí đáp lại:
-Thưa thầy, cũng bằng nhau nhưng em lấy 2 nửa quả táo vì biết đâu quả táo nguyên đã chẳng bị sâu đục khoét ở trong!

Archimède
Archimède (Acsimet) là công dân của Syracuse, một thành phố trên hòn đảo mà ngày nay chúng ta gọi là Sicile. Ông sinh khoảng năm 287, mất năm 212 trước CN, sống gần 75 tuổi .
Vua của thành Syracuse cho làm một chiếc vương miện bằng vàng nguyên chất. Khi vương miện được làm xong, nhà vua nghi ngờ rằng nó có thể pha lẫn bạc và đã hỏi Acsimet làm thế nào để biết được báu vật có đúng là vàng nguyên chất không ?
Acsimet đã suy nghĩ rất lâu nhưng chưa tìm được ra câu trả lời, mà ngày trả lời vua sắp đến. Một hôm, lúc đang tắm ở một nhà tắm công cộng, nhà bác học bỗng nhận thấy rằng mực nước dâng cao lên khi ông nhảy vào nước . Người ta kể lại rằng, lúc đấy bất thình lình ông phát hiện ra phương pháp giải quyết bài toán về chiếc vương miện, quá phấn khởi ông vội vàng nhảy ra khỏi bể tắm và vừa chạy trần chuồng vừa hét tướng lên :” Eureka ! ( Ơreka ! Tôi đã tìm ra rồi ).

Dupon
Morixơ Đuypông mắc tính đãng trí. Có 1 lần, ông viết thư cho bạn:
-“Bạn thân mến, hôm trước về thăm anh, tôi để quên cái gậy chống ở nhà anh. Khi nào có người lên nhờ anh chuyển nó giúp tôi nhé!”
Đang lúc dán phong bì, ông nhìn thấy chiếc gậy dựng ở góc phòng. Ông bèn giở phong bì ra và viết thêm:
-“Tôi đã tìm thấy cái gậy ở nhà tôi rồi. Anh đừng bận tâm nữa nhé!”
Sau đó, Đuypông lại cho thư vào phong bì, dán lại và gửi đi.

Poincaré
Tại một hội nghị khoa học, Einstein gặp Poincaré và nói: “Ngày xưa tôi muốn theo đường làm Toán nhưng rồi phải bỏ. Vì giữa những điều đúng chứng minh được, tôi không biết điều nào quan trọng.” Poincaré trả lời: “Còn tôi thì ngày xưa muốn theo Vật lý nhưng sau phải bỏ. Vì trong những điều cho là quan trọng, tôi không biết điều nào đúng.”

Répbéc
Tennixin, nhà thơ lớn của nước Anh, có bài thơ nổi tiếng “Trường ca về cuộc sống”.
Một hôm, ông nhận được 1 bức thư của Répbéc, một nhà Toán học có uy tín gửi đến phê bình bài thơ đó. Thư viết:
-“Thưa ông, thơ của ông rất hay, nhưng toàn sai sự thật. Ông viết: Mỗi khoảnh khắc 1 con người sinh ra, cũng khoảnh khắc ấy lại con người chết đi.
Vậy thì ông lý giải thế nào về chuyện dân số ngày càng tăng. Tôi tha thiết yêu cầu ông chữa lại: Mỗi khoảnh khắc 1 con người sinh ra, cũng khoảnh khắc ấy lại 1/6 con người chết đi.
Lẽ ra ko phải 1/6 mà là con số lẻ phức tạp hơn nhiều. Nhưng thôi hãy tạm như vậy để ông gieo vần. Mong ông hiểu cho.”

Newton
Một hôm trước khi ra phố, Newton treo 1 cái biển nhỏ trước nhà có ghi dòng chữ: “Bạn nào đến thăm tôi, xin hãy đợi, 5h chiều tôi sẽ về”
Lúc 4h, Newton trở về. Đọc xong dòng chữ trên, ông bỏ đi và tự nhủ: ta phải đi 1 lát nữa, chủ nhà bảo đến 5h ông ta mới về kia mà! Lúc đó, ta sẽ trở lại !

http://www.ngobaochau.info/component/content/article/73-cac-nha-toan-hoc-noi-tieng/178-giai-thoai-ve-su-lang-tri-cua-cac-nha-toan-hoc.html

4 Responses to “Giai thoại – Câu chuyện khoa học”

  1. vanchanh123 Says:

    Giáo sư và công thức toán
    Giáo sư và công thức toán / 博士の愛した数式 / The Professor’s Beloved Equation
    Để lại phản hồi Posted by KL on Tháng Tám 22, 2010

    Yoko Ogawa sinh năm 1962 và là một trong những nhà văn đương đại nổi tiếng nhất của Nhật bản hiện nay. Năm 2004 cuốn “Hakase no aishita sushiki” (nguyên tác: 博士の愛した数式, dịch sang Anh ngữ: The Professor’s Beloved Equation) của bà đoạt giải Yomiuri danh giá của văn học Nhật Bản. Cuốn sách nhanh chóng được đón nhận khắp nơi, một bản dịch khác tại Mỹ còn lấy tựa là “The Housekeeper and the Professor”.
    (nhà văn Yoko Ogawa)

    Là người yêu thích vẻ đẹp của toán học từ nhỏ, tôi đã bị cuốn hút ngay từ khi đọc những dòng đầu tiên. Một câu chuyện bình dị về tình người xoay quay ba nhân vật chính: một giáo sư toán với căn bệnh mất trí nhớ lạ thường sau một tai nạn giao thông – cứ sau 80 phút trí nhớ ngắn hạn của ông lại mất hoàn toàn…, một phụ nữ làm nghề giúp việc nhà, độc thân nuôi con, và cậu con trai 10 tuổi của cô… và cũng phải kể đến nhân vật thứ tư (dù không là nhân vật chính) là người chị dâu của giáo sư… Tình yêu toán học giúp giáo sư còn tồn tại với đời, lòng nhân hậu giúp người phụ nữ trẻ hiểu được những đau đớn trong cuộc đời của ông và tinh tế giúp đỡ ông, sự giày vò khiến người chị dâu sống khép mình trong mặc cảm lạnh lùng… Tuy nhiên sự hồn nhiên và lối sống tình cảm của cậu bé 10 tuổi như xúc tác cho mối quan hệ của họ… – như một gạch nối … tất cả hoà quyện trong một bầu không khí đậm chất… lãng mạn của toán học !

    Không có gì đáng ngạc nhiên khi biết Yoko Ogawa, ngoài giải thưởng văn học, còn được Hiệp Hội Toán học tặng giải thưởng đặc biệt vì giúp bạn đọc thấy được vẻ đẹp của Toán học…

    Năm 2006 người Nhật đã dựng một bộ phim dựa trên cốt truyện này, bộ phim mang tựa “The Professor’s Beloved Equation” và cũng có những đặc sắc nhất định so với truyện gốc… Xem phim, chúng ta càng xúc động về tình yêu thương, lòng nhân ái của con người với con người. Những khung hình tuyệt đẹp với hoa anh đào, đồng cỏ, và vẻ đẹp giản dị, đơn sơ của cả chi tiết nhỏ nhoi như căn nhà gỗ của giáo sư càng khiến câu chuyện trở nên đẹp một cách mộc mạc. Ngôn ngữ của điện ảnh quả cũng có những hấp dẫn riêng, từ ánh sáng chan hoà, đến những lớp sóng trên bờ cát… và cả cách xử lý khôn khéo của kịch bản phim – để cho cậu bé sau này lớn lên thành thầy giáo kể lại câu chuyện trên bục giảng toán… Câu chuyện là một minh chứng hùng hồn về niềm đam mê toán học và vẻ đẹp sâu kín, giản dị của môn khoa học này… khi mà một phụ nữ chưa học hết phổ thông dần dần trở nên yêu… toán, nhạy cảm với toán, mơ mộng với những số nguyên tố, số ảo, v.v. và cả phương trình Euler…

    điểm thắt, cũng là “phương trình” quan trọng nhất của cả câu chuyện – lời giải cho một loạt các mối quan hệ chính là công thức Euler… sẽ rất thú vị khi tưởng tượng ra (lúc đọc truyện) và khi xem (trên phim) hằng số e (một số vô tỷ), số π (một số vô tỷ khác), và số ảo (i) vốn xa lạ với nhau và không có mối liên hệ gì, nhưng chỉ với sự xuất hiện thêm của số 1 giản dị thì tất cả đã qui tụ trong một phương trình Euler cùng với số 0 tròn trịa… dường như vẻ đẹp của một vì sao trên bầu trời, vẻ đẹp của một nhành hoa hoang dại trên đồng cỏ, tưởng chừng như không có mối liên quan gì với nhau, … thì nay bỗng thay đổi lạ thường… phải chăng, đó cũng là “phương trình” cho các mối quan hệ trong đời? ba người lớn với một cậu bé con bỗng chốc trở nên sống động và đầy ý nghĩa…

    “… To see a world in a grain of sand, and a heaven in a wild flower, hold infinity in the palm of your hand, and eternity in an hour… ” – William Blake.

    ==================

    – Cô đi giày cỡ số mấy?
    Khi tôi tự giới thiệu là người giúp việc mới, câu đầu tiên giáo sư hỏi tôi không phải là tên tuổi mà là cỡ giày. Không một lời chào, không một cái cúi đầu. Đối với người giúp việc, phải trả lời tất cả các câu hỏi của chủ nhà là nguyên tắc bất di bất dịch, vậy nên tôi đáp:
    – Cỡ 24, thưa giáo sư.
    – Ồ, một con số thật hào hoa. Giai thừa của 4.
    Giáo sư khoanh tay, khép mắt. Sự im lặng kéo dài một lúc.
    – Giai thừa là gì ạ?
    Tôi hỏi. Không biết tại sao nữa, nhưng tôi muốn đưa đẩy thêm câu chuyện vì cho rằng cỡ giày có một ý nghĩa sâu xa nào đó với vị chủ nhà này.
    – Đem nhân tất cả các số tự nhiên từ 1 đến 4 với nhau thì sẽ ra 24.
    Giáo sư trả lời trong khi vẫn nhắm mắt.
    – Thế số điện thoại nhà cô là bao nhiêu?
    – 5761455 ạ.
    – 5761455? Còn gì tuyệt hơn nữa chứ. Nó bằng đúng số lượng số nguyên tố tồn tại tính cho đến một trăm triệu…
    ==================

    … Còn vấn đề nan giải của giáo sư thì vẫn là toán học. Tôi khen ngợi ông rằng ông thật tuyệt vời vì đã giải được những bài toán yêu cầu sự tập trung trong một thời gian dài và lại còn giành được tiền thưởng nữa, nhưng ông chẳng tỏ ra vui mừng.
    – Đó chẳng qua chỉ là một trò chơi.
    Giọng giáo sư nghe có vẻ buồn rầu chứ không hẳn là khiêm tốn.
    – Người ra đề đã biết sẵn đáp án. Giải một bài toán đã được đảm bảo rằng sẽ có lời giải thì chẳng khác nào trèo lên một ngọn núi mà ta đã nhìn thấy đỉnh và lại có người dẫn đường. Chân lý của toán học không phải thế, nó giấu mình kín đáo ở tận cùng con đường chưa có người khai phá…

    ==================

    …. Giáo sư kéo xích ghế, đưa mắt lại gần hai con số hơn. Giáo sư cũng có mùi giấy giống y như thư phòng.

    – Cô biết ước số chứ?
    – Vâng, tôi không chắc lắm nhưng hình như ngày xưa tôi có được học…
    – 220 chia hết cho 1. Cũng lại chia hết cho 220. Không bị dư ra tẹo nào. Vì thế mà 1 và 220 là ước số của 220. Bất kỳ số tự nhiên nào cũng có ước số là 1 và chính nó. Theo cô thì nó còn chia hết cho những số nào nữa?
    – 2 này, 10 này…
    – Phải rồi. Ai bảo là cô không biết nào. Tiếp tục, ta thử liệt kê các số ước của 220 và 284 ra nhé, ngoại trừ chính nó. Ta được như thế này.

    220: 1 2 4 5 10 11 20 22 44 55 110

    142 71 4 2 1: 284

    Các con số của giáo sư viết ra đều tròn trịa, và hơi nghiêng. Xung quanh chúng, lả tả những đám bột than hở ra từ cái ruột chì loại mềm.
    – Giáo sư tìm ra tất cả các ước số ấy bằng cách tính nhẩm hay sao?
    – Tôi không tính từng con số một, mà tìm ra chúng bằng cái trực giác giống như cô đã dùng ấy. Thế nhé, ta chuyển sang bước tiếp theo.
    Giáo sư thêm vào những ký hiệu.
    220: 1+2+4+5+10+11+20+22+44+55+110 =

    = 142+71+4+2+1:284

    – Cô cộng đi nào. Chậm thôi cũng được.
    Giáo sư đưa bút chì cho tôi. Tôi viết các phép tính vào phần còn trống của tờ gấp quảng cáo. Các ngữ điệu tràn đầy dự cảm và vẻ dịu dàng của ông giúp tôi không rơi vào tâm trạng của một kẻ đang dự cuộc sát hạch. Ngược lại, tôi đã thoát ra khỏi cái tình thế khó xử này và cảm thấy trong mình một sứ mệnh, như thể tôi mới chính là người sẽ đem đến một câu trả lời chính xác.

    Tôi soát đi soát lại ba lần xem có sai sót gì không. Tự bao giờ, nắng đã tắt, màn đêm bắt đầu buông xuống. Thỉnh thoảng, có tiếng của vài giọt nước rỏ xuống từ đống bát đĩa chưa kịp rửa xong. Giáo sư đứng bên cạnh nhìn tôi chăm chú.
    – Xong rồi, giáo sư ạ.
    220:1+2+4+5+10+11+20+22+44+55+110 = 284
    220 = 142+71+4+2+1:284
    – Hoàn toàn chính xác. Cô thấy chưa, chúng là một dãy số tuyệt vời, đúng không nào? Tổng các ước số của 220 bằng 284. Và tổng các ước số của 284 bằng 220. Cặp số của tình bạn. Một cặp số cực kỳ hi hữu. Ngay cả Fermat và Descartes, mỗi ông cũng chỉ tìm ra được một cặp số như thế thôi. Chúng được ràng buộc với nhau bởi một sợi dây mà Thượng đế đã an bài. Cô không thấy đẹp sao? Ngày sinh nhật của cô với con số khắc trên chiếc đồng hồ của tôi, chúng gắn bó với nhau bằng một chuỗi số kỳ diệu nhường này….

    ==================

    Tiếp xúc với chỉ cái công thức ấy, tôi ngỡ như mình cảm thấy cả thân nhiệt của ông trong khi chả biết gì về ông. Euler đã sử dụng một khái niệm cực kỳ bất tự nhiên để tạo ra một công thức. Ông đã phát hiện ra mối ràng buộc tự nhiên giữa những con số tưởng như vô can.
    e mũ π nhân i cộng 1 bằng 0.

    Tôi nhìn lại mẩu giấy nhớ của giáo sư một lần nữa. Một số kéo dài triền miên bất tận và một số hư ảo không bao giờ để lộ chân tướng vẽ nên một quỹ đạo gọn gàng rồi cùng nhau tiếp đất. Chẳng có hình tròn nào xuất hiện, nhưng từ tầng không, π bất ngờ sà xuống bên e, bắt tay với i – kẻ nhút nhát. Chúng nép vào nhau, nín thở, song vạn vật bỗng biến đổi không báo trước vào cái ngày một người thêm vào đó một phép cộng. Tất cả nằm gọn trong vòng tay của 0.
    Công thức Euler là ngôi sao băng sáng chói giữa bóng đêm. Là câu thơ khắc trong hang tối. Vừa ngây ngất với vẻ đẹp giấu kín ấy, tôi vừa cất mẩu giấy vào ví.

    Lúc bước xuống cầu thang thư viện, tôi bất giác ngoảnh đầu lại, nhưng chẳng có bóng người nào ở khu vực toán học, chẳng ai biết tới những thứ đẹp đẽ nhường vậy đang giấu mình ở đó, ngoại trừ sự tĩnh lặng.
    (các bức ảnh sưu tầm từ Internet, các trích đoạn của tiểu thuyết được in nghiêng màu xanh)
    Giáo sư và công thức toán / 博士の愛した数式 / The Professor’s Beloved Equation
    Để lại phản hồi Posted by KL on Tháng Tám 22, 2010

    Yoko Ogawa sinh năm 1962 và là một trong những nhà văn đương đại nổi tiếng nhất của Nhật bản hiện nay. Năm 2004 cuốn “Hakase no aishita sushiki” (nguyên tác: 博士の愛した数式, dịch sang Anh ngữ: The Professor’s Beloved Equation) của bà đoạt giải Yomiuri danh giá của văn học Nhật Bản. Cuốn sách nhanh chóng được đón nhận khắp nơi, một bản dịch khác tại Mỹ còn lấy tựa là “The Housekeeper and the Professor”.
    (nhà văn Yoko Ogawa)

    Là người yêu thích vẻ đẹp của toán học từ nhỏ, tôi đã bị cuốn hút ngay từ khi đọc những dòng đầu tiên. Một câu chuyện bình dị về tình người xoay quay ba nhân vật chính: một giáo sư toán với căn bệnh mất trí nhớ lạ thường sau một tai nạn giao thông – cứ sau 80 phút trí nhớ ngắn hạn của ông lại mất hoàn toàn…, một phụ nữ làm nghề giúp việc nhà, độc thân nuôi con, và cậu con trai 10 tuổi của cô… và cũng phải kể đến nhân vật thứ tư (dù không là nhân vật chính) là người chị dâu của giáo sư… Tình yêu toán học giúp giáo sư còn tồn tại với đời, lòng nhân hậu giúp người phụ nữ trẻ hiểu được những đau đớn trong cuộc đời của ông và tinh tế giúp đỡ ông, sự giày vò khiến người chị dâu sống khép mình trong mặc cảm lạnh lùng… Tuy nhiên sự hồn nhiên và lối sống tình cảm của cậu bé 10 tuổi như xúc tác cho mối quan hệ của họ… – như một gạch nối … tất cả hoà quyện trong một bầu không khí đậm chất… lãng mạn của toán học !

    Không có gì đáng ngạc nhiên khi biết Yoko Ogawa, ngoài giải thưởng văn học, còn được Hiệp Hội Toán học tặng giải thưởng đặc biệt vì giúp bạn đọc thấy được vẻ đẹp của Toán học…

    Năm 2006 người Nhật đã dựng một bộ phim dựa trên cốt truyện này, bộ phim mang tựa “The Professor’s Beloved Equation” và cũng có những đặc sắc nhất định so với truyện gốc… Xem phim, chúng ta càng xúc động về tình yêu thương, lòng nhân ái của con người với con người. Những khung hình tuyệt đẹp với hoa anh đào, đồng cỏ, và vẻ đẹp giản dị, đơn sơ của cả chi tiết nhỏ nhoi như căn nhà gỗ của giáo sư càng khiến câu chuyện trở nên đẹp một cách mộc mạc. Ngôn ngữ của điện ảnh quả cũng có những hấp dẫn riêng, từ ánh sáng chan hoà, đến những lớp sóng trên bờ cát… và cả cách xử lý khôn khéo của kịch bản phim – để cho cậu bé sau này lớn lên thành thầy giáo kể lại câu chuyện trên bục giảng toán… Câu chuyện là một minh chứng hùng hồn về niềm đam mê toán học và vẻ đẹp sâu kín, giản dị của môn khoa học này… khi mà một phụ nữ chưa học hết phổ thông dần dần trở nên yêu… toán, nhạy cảm với toán, mơ mộng với những số nguyên tố, số ảo, v.v. và cả phương trình Euler…

    điểm thắt, cũng là “phương trình” quan trọng nhất của cả câu chuyện – lời giải cho một loạt các mối quan hệ chính là công thức Euler… sẽ rất thú vị khi tưởng tượng ra (lúc đọc truyện) và khi xem (trên phim) hằng số e (một số vô tỷ), số π (một số vô tỷ khác), và số ảo (i) vốn xa lạ với nhau và không có mối liên hệ gì, nhưng chỉ với sự xuất hiện thêm của số 1 giản dị thì tất cả đã qui tụ trong một phương trình Euler cùng với số 0 tròn trịa… dường như vẻ đẹp của một vì sao trên bầu trời, vẻ đẹp của một nhành hoa hoang dại trên đồng cỏ, tưởng chừng như không có mối liên quan gì với nhau, … thì nay bỗng thay đổi lạ thường… phải chăng, đó cũng là “phương trình” cho các mối quan hệ trong đời? ba người lớn với một cậu bé con bỗng chốc trở nên sống động và đầy ý nghĩa…

    “… To see a world in a grain of sand, and a heaven in a wild flower, hold infinity in the palm of your hand, and eternity in an hour… ” – William Blake.

    ==================

    – Cô đi giày cỡ số mấy?
    Khi tôi tự giới thiệu là người giúp việc mới, câu đầu tiên giáo sư hỏi tôi không phải là tên tuổi mà là cỡ giày. Không một lời chào, không một cái cúi đầu. Đối với người giúp việc, phải trả lời tất cả các câu hỏi của chủ nhà là nguyên tắc bất di bất dịch, vậy nên tôi đáp:
    – Cỡ 24, thưa giáo sư.
    – Ồ, một con số thật hào hoa. Giai thừa của 4.
    Giáo sư khoanh tay, khép mắt. Sự im lặng kéo dài một lúc.
    – Giai thừa là gì ạ?
    Tôi hỏi. Không biết tại sao nữa, nhưng tôi muốn đưa đẩy thêm câu chuyện vì cho rằng cỡ giày có một ý nghĩa sâu xa nào đó với vị chủ nhà này.
    – Đem nhân tất cả các số tự nhiên từ 1 đến 4 với nhau thì sẽ ra 24.
    Giáo sư trả lời trong khi vẫn nhắm mắt.
    – Thế số điện thoại nhà cô là bao nhiêu?
    – 5761455 ạ.
    – 5761455? Còn gì tuyệt hơn nữa chứ. Nó bằng đúng số lượng số nguyên tố tồn tại tính cho đến một trăm triệu…
    ==================

    … Còn vấn đề nan giải của giáo sư thì vẫn là toán học. Tôi khen ngợi ông rằng ông thật tuyệt vời vì đã giải được những bài toán yêu cầu sự tập trung trong một thời gian dài và lại còn giành được tiền thưởng nữa, nhưng ông chẳng tỏ ra vui mừng.
    – Đó chẳng qua chỉ là một trò chơi.
    Giọng giáo sư nghe có vẻ buồn rầu chứ không hẳn là khiêm tốn.
    – Người ra đề đã biết sẵn đáp án. Giải một bài toán đã được đảm bảo rằng sẽ có lời giải thì chẳng khác nào trèo lên một ngọn núi mà ta đã nhìn thấy đỉnh và lại có người dẫn đường. Chân lý của toán học không phải thế, nó giấu mình kín đáo ở tận cùng con đường chưa có người khai phá…

    ==================

    …. Giáo sư kéo xích ghế, đưa mắt lại gần hai con số hơn. Giáo sư cũng có mùi giấy giống y như thư phòng.

    – Cô biết ước số chứ?
    – Vâng, tôi không chắc lắm nhưng hình như ngày xưa tôi có được học…
    – 220 chia hết cho 1. Cũng lại chia hết cho 220. Không bị dư ra tẹo nào. Vì thế mà 1 và 220 là ước số của 220. Bất kỳ số tự nhiên nào cũng có ước số là 1 và chính nó. Theo cô thì nó còn chia hết cho những số nào nữa?
    – 2 này, 10 này…
    – Phải rồi. Ai bảo là cô không biết nào. Tiếp tục, ta thử liệt kê các số ước của 220 và 284 ra nhé, ngoại trừ chính nó. Ta được như thế này.

    220: 1 2 4 5 10 11 20 22 44 55 110

    142 71 4 2 1: 284

    Các con số của giáo sư viết ra đều tròn trịa, và hơi nghiêng. Xung quanh chúng, lả tả những đám bột than hở ra từ cái ruột chì loại mềm.
    – Giáo sư tìm ra tất cả các ước số ấy bằng cách tính nhẩm hay sao?
    – Tôi không tính từng con số một, mà tìm ra chúng bằng cái trực giác giống như cô đã dùng ấy. Thế nhé, ta chuyển sang bước tiếp theo.
    Giáo sư thêm vào những ký hiệu.
    220: 1+2+4+5+10+11+20+22+44+55+110 =

    = 142+71+4+2+1:284

    – Cô cộng đi nào. Chậm thôi cũng được.
    Giáo sư đưa bút chì cho tôi. Tôi viết các phép tính vào phần còn trống của tờ gấp quảng cáo. Các ngữ điệu tràn đầy dự cảm và vẻ dịu dàng của ông giúp tôi không rơi vào tâm trạng của một kẻ đang dự cuộc sát hạch. Ngược lại, tôi đã thoát ra khỏi cái tình thế khó xử này và cảm thấy trong mình một sứ mệnh, như thể tôi mới chính là người sẽ đem đến một câu trả lời chính xác.

    Tôi soát đi soát lại ba lần xem có sai sót gì không. Tự bao giờ, nắng đã tắt, màn đêm bắt đầu buông xuống. Thỉnh thoảng, có tiếng của vài giọt nước rỏ xuống từ đống bát đĩa chưa kịp rửa xong. Giáo sư đứng bên cạnh nhìn tôi chăm chú.
    – Xong rồi, giáo sư ạ.
    220:1+2+4+5+10+11+20+22+44+55+110 = 284
    220 = 142+71+4+2+1:284
    – Hoàn toàn chính xác. Cô thấy chưa, chúng là một dãy số tuyệt vời, đúng không nào? Tổng các ước số của 220 bằng 284. Và tổng các ước số của 284 bằng 220. Cặp số của tình bạn. Một cặp số cực kỳ hi hữu. Ngay cả Fermat và Descartes, mỗi ông cũng chỉ tìm ra được một cặp số như thế thôi. Chúng được ràng buộc với nhau bởi một sợi dây mà Thượng đế đã an bài. Cô không thấy đẹp sao? Ngày sinh nhật của cô với con số khắc trên chiếc đồng hồ của tôi, chúng gắn bó với nhau bằng một chuỗi số kỳ diệu nhường này….

    ==================

    Tiếp xúc với chỉ cái công thức ấy, tôi ngỡ như mình cảm thấy cả thân nhiệt của ông trong khi chả biết gì về ông. Euler đã sử dụng một khái niệm cực kỳ bất tự nhiên để tạo ra một công thức. Ông đã phát hiện ra mối ràng buộc tự nhiên giữa những con số tưởng như vô can.
    e mũ π nhân i cộng 1 bằng 0.

    Tôi nhìn lại mẩu giấy nhớ của giáo sư một lần nữa. Một số kéo dài triền miên bất tận và một số hư ảo không bao giờ để lộ chân tướng vẽ nên một quỹ đạo gọn gàng rồi cùng nhau tiếp đất. Chẳng có hình tròn nào xuất hiện, nhưng từ tầng không, π bất ngờ sà xuống bên e, bắt tay với i – kẻ nhút nhát. Chúng nép vào nhau, nín thở, song vạn vật bỗng biến đổi không báo trước vào cái ngày một người thêm vào đó một phép cộng. Tất cả nằm gọn trong vòng tay của 0.
    Công thức Euler là ngôi sao băng sáng chói giữa bóng đêm. Là câu thơ khắc trong hang tối. Vừa ngây ngất với vẻ đẹp giấu kín ấy, tôi vừa cất mẩu giấy vào ví.

    Lúc bước xuống cầu thang thư viện, tôi bất giác ngoảnh đầu lại, nhưng chẳng có bóng người nào ở khu vực toán học, chẳng ai biết tới những thứ đẹp đẽ nhường vậy đang giấu mình ở đó, ngoại trừ sự tĩnh lặng.
    (các bức ảnh sưu tầm từ Internet, các trích đoạn của tiểu thuyết được in nghiêng màu xanh)

  2. vanchanh123 Says:

    Lập trình sư http://klfosb.wordpress.com/2010/08/22/laptrinhsu/

    tác giả: – Bàn Tải Cân –

    Vài thế kỷ trước tại Hà thành có chàng trai trẻ tên gọi Tích Gia Văn, là sinh viên năm cuối khoa Công nghệ thông tin Đại học Bách khoa Hà Nội. Văn bình sinh thích viết phần mềm máy tính, rất có kỹ năng lập trình. Không những bạn bè đồng khóa đều khâm phục chàng mà ngay cả các giáo sư uyên bác cũng phải nể vì, coi Văn như một tài năng thuật toán đầy triển vọng. Các đoạn mã Văn viết ra bao giờ cũng sáng sủa, lề chuẩn, đầy đủ comment nhưng lại rất súc tích và tối ưu về giải thuật.

    Tốt nghiệp loại xuất sắc nhưng Tích Gia Văn không vội vàng tiếp nhận những lời đề nghị làm việc ở những vị trí then chốt trong các công ty phần mềm lớn. Cái mà chàng cần lúc này là một sự nghiệp lẫy lừng, một danh tiếng vọng tỏa trong giới lập trình viên toàn thế giới. Văn quyết định tiếp tục con đường học vấn. Chàng tìm sang Ấn Độ làm thạc sĩ khoa học dưới sự hướng dẫn của một vị giáo sư uyên bác người Việt gốc Mỹ, giảng viên một trường đại học lớn ở Bangalore. Sau buổi sát hạch, vị giáo sư bảo Văn: “Cậu có kỹ năng tốt, chỉ còn thiếu kỷ luật”. Văn buồn lắm, nhưng ý chí cầu tiến khiến chàng trong suốt ba năm ròng rã quyết tâm theo thầy mà tự khép mình vào thứ kỷ luật nghiệt ngã của đủ mọi loại quy trình sản xuất và quy trình quản lý chất lượng phần mềm. Sau ba năm Tích Gia Văn đã trở nên một trưởng dự án siêu hạng, có thể phụ trách những project cực lớn với sự tham gia đồng thời của hàng chục ngàn lập trình viên thuộc đủ mọi sắc tộc.

    Xong luận án thạc sĩ ở Ấn độ, Văn xin được học bổng sang Hoa Kỳ làm tiến sĩ ở Silicon Valley, tiếp tục con đường phát triển sự nghiệp của mình. Ông thầy tiếp theo của Văn là một học giả lớn gốc Campuchia, người chuyên viết các khảo cứu về chất lượng mã nguồn cho các công ty phần mềm đạt tiêu chuẩn CMM5 trở lên. Sau khi tiếp xúc, ông bảo Văn: “Cậu có kỹ năng và kỷ luật tốt, chỉ còn thiếu sáng tạo”. Cảm thấy hổ thẹn về lời nhận xét quá chính xác, Văn cật lực theo ông thầy lăn vào những cuộc luyện tập sáng tạo vô bờ. Kết quả của công cuộc đó là những phần mềm tuy nhỏ, nhưng kỳ diệu đến mức có sản phẩm đã được đề cử Probel – một giải thưởng dành cho những phần mềm sáng tạo xuất chúng, tương đương với giải Nobel trong khoa học. Ba năm sau, vào năm Giáp Dậu, trong buổi lễ nhận văn bằng tiến sĩ, ông thầy gọi Văn đến mà bảo rằng: “Trình độ của ta nay cũng không bén gót cậu được nữa, giờ là lúc cậu tung hoành rồi”. Nói đoạn cho Văn xuất môn.

    Cũng vào mùa thu năm đó, Việt nam đứng ra đăng cai tổ chức cuộc thi Lập trình Quốc tế lần thứ nhất tại núi Trúc, ngọn núi cao nhất trong dãy núi Bò ở thủ đô Hà Nội. Đây là cuộc thi thu hút các tài năng lẫy lừng nhất trên khắp thế giới về tham dự. Tất nhiên Tích Gia Văn không thể bỏ lỡ cơ hội mỗi năm có một này, bởi đó là dịp để chàng thể hiện tài năng xuất chúng cùng những tuyệt chiêu cái thế sau bao năm tu luyện ở hải ngoại. Văn tự tin rằng với trình độ hiện có, chàng sẽ nắm chắc giải nhất, nếu không nói là giải đặc biệt. Quả thật lúc đó danh tiếng của Tích Gia Văn đã lớn đến mức khi chàng đáp máy bay trở về Việt nam dự thi, hơn hai ngàn thiếu nữ mắt vàng môi tím quần lót áo yếm – là mốt thời thượng khi đó – đã chầu chực sẵn ở sân bay Nội Bài để được chiêm ngưỡng dung nhan và xin chữ ký của chàng. Bộ trưởng Bộ Phần mềm cũng đích thân ra tận chân cầu thang máy bay đón nhân tài đất Việt hồi hương.

    Vòng sơ khảo diễn ra khẩn trương, các đối thủ bọt bèo nhanh chóng bị loại. Nhiều thí sinh đến từ Mỹ, Ailen, Israel, Trung Quốc, Ấn Độ… hết sức buồn rầu, thất vọng và tức giận vì không được lọt vào vòng trong. Nhưng biết làm sao khi họ không đủ tài năng và đức độ. Tích Gia Văn dẫn đầu vòng sơ khảo và lọt vào vòng chung kết cùng hai thí sinh khác, đều là người Việt, tên là Tồn Toàn Lương và Mặc Kim Chân. Cuộc thi chung kết được tổ chức đúng vào một buổi tối mùa thu heo may nhè nhẹ, khán giả tập trung về núi Trúc đông đến nghẹt thở. Một hàng rào cảnh sát được giăng kín dưới chân núi để đảm bảo an toàn cho cuộc thi. Trên đỉnh núi đèn hoa chăng rực rỡ. Sau lời khai mạc trọng thể và cảm động, Ban giám khảo dõng dạc đọc đề thi chung cho cả ba thí sinh: “Lập phần mềm diễn giải các giấc mơ theo vô thức tập thể của Jung”. Thời gian làm bài là 30 phút, không kể thời gian cúi chào. Trên khán đài, ba nàng thiếu nữ sắc đẹp mê hồn cơ thể tuyệt mỹ ăn vận hở hang đang nằm tênh hênh thiu thiu ngủ trên ba chiếc xô-pha. Những bộ cảm biến vô cùng tinh tế được gắn vào vầng trán thanh khiết của các mỹ nhân, thu lại những cơn mơ êm ái và truyền vào hệ thống máy tính như đầu nhập dữ liệu. Một màn hình không gian cực lớn độ nét siêu đẳng được trang trọng đặt giữa khán đài, khiến cho trong vòng trăm dặm đều có thể thấy rõ những gì đang diễn biến.

    Tích Gia Văn thở phào nhẹ nhõm. Đề thi lần này chàng thông hiểu như lòng bàn tay vì đã lập không ít hơn 300 phần mềm tương tự. Là người trình diễn đầu tiên, Văn tự tin bước lên khán đài. Chàng cúi chào khán giả trong tiếng vỗ tay hoan nghênh nồng nhiệt của các ái mộ viên, rồi khoan thai bước đến bên chiếc máy tính để sẵn. Văn nhắm mắt hít một hơi thật sâu và đặt nhẹ hai tay lên bàn phím. Toàn bộ design cùng hàng ngàn diagram của bài toán đã được chàng thiết kế hết sức cặn kẽ – bên trong não bộ. Đột nhiên từng dòng từng dòng mã lệnh tuôn trào từ đôi bàn tay thanh tú. Các khối lệnh cùng các mảng nhị phân do Văn trực tiếp gõ bằng mã máy cứ dồn lên dồn xuống nhịp nhàng, hào hoa và vô cùng chuẩn xác. Không một lần phải nhấn nút Delete, không một lần cần bấm BackSpace. Ban giám khảo chỉ biết nín thở lắc đầu thán phục. Tích Gia Văn hoàn tất bài thi trước thời gian qui định 5 phút. Toàn bộ chương trình của chàng không hề có lấy một lỗi nhỏ trong cú pháp hay thuật toán, hơn nữa còn được tối ưu bởi phép biến mã Korpio-Kaluza-Klein. Nắm chắc giải vô địch trong tay, Văn kiêu hãnh cúi chào khán giả, khẽ hôn gió cảm tạ ba thiếu nữ vẫn đang mơ màng giấc điệp rồi khoanh tay lùi qua một bên.

    Sau Tích Gia Văn là phần trình diễn của Tồn Toàn Lương, thí sinh thứ hai. Lương người nhỏ gầy, da trắng, vốn là tiến sĩ nhạc viện Hà nội nhưng vì trót thích vi tính nên đã học thêm bằng hai về kỹ nghệ phần mềm. Tồn Toàn Lương quay sang nhìn Văn đầy vẻ thông cảm, đoạn yêu cầu Ban giám khảo cho đặt một chiếc micro nhạy cạnh bàn phím nơi chàng trình diễn. Không gian đột nhiên tĩnh lặng. Đám đông hàng trăm ngàn người mà im phăng phắc, chỉ còn lác đác những tiếng tim đập rộn ràng vì hồi hộp của các thiếu nữ mới lớn. Bỗng những âm hưởng lạ lùng bất chợt vang lên, khi sâu lắng da diết, khi hào hùng cuồn cuộn. Đó là những âm thanh của sự tiếp xúc những ngón tay Lương với các con chữ trên bàn phím. Chúng làm nên cả một dàn nhạc giao hưởng với hàng trăm loại nhạc cụ khác nhau, hoà quyện trong giai điệu tuyệt vời của bản giao hưởng Hành khất, số 9 op 16 cung fa giáng trưởng của nhạc sĩ thiên tài Phsytomum. Song song với đó là những dòng lệnh bất tận tuôn trào trên màn hình cực lớn. Mọi người cùng choáng lặng đi trong những âm thanh trầm hùng, trong khung cảnh của một buổi đại hoà nhạc lạ lùng nhất thế kỷ. Bàn giao hưởng kéo dài đúng 29 phút 35 giây, và phần mềm được hoàn tất với đầy đủ các tính năng cần có, không lỗi và trọn vẹn.

    Phần thi thứ ba do thí sinh Mặc Kim Chân trình diễn. Chân người cao lớn, mặt rất đen, vận bộ đồ ký giả, trông đăm chiêu ngơ ngác như đang suy tính điều gì mông lung lắm. Chương trình của Chân làm ra cũng được đánh giá là không kém phần hoàn thiện so với hai chương trình trước, nhưng cách gõ lệnh của Chân không có được nhạc tính hào hùng như của Lương, thời gian làm bài lại lâu hơn của Văn chừng 2 phút. Tuy nhiên khi ban giám khảo review lại những đoạn code Chân viết thì cả biển người bỗng sững sờ kinh ngạc. Văn cũng lặng đi vì hãi hùng khi đọc thấy trên màn hình không chỉ là những trang mã lệnh khô khan mà là cả một trường thi đại tác. Cách sử dụng cú pháp liên hoàn của 32 liên ngữ lập trình, cách đặt tên biến và tên hàm, cách khai báo các lớp và khởi tạo đối tượng của Mặc Kim Chân khéo léo đến độ đã biến toàn bộ những dòng lệnh và chú giải xen kẽ trong chương trình thành một bài thơ lục bát liên hoàn, lời lời tựa mây vần gió vũ uyển chuyển bất tận, đọc xuôi cũng không được mà đọc ngược cũng không xong. Không những thế phần mềm của Chân còn sinh thêm những yếu tố ngẫu nhiên trong cách luận giải giấc mơ, khiến kết quả trở nên vô cùng chính xác.

    Tất nhiên năm đó Tích Gia Văn đành ngậm ngùi ôm giải ba. Tài năng của Tồn Toàn Lương và Mặc Kim Chân khiến chàng cảm thấy bất lực trên con đường chinh phục đỉnh cao của trình nghiệp. Có kẻ cho Văn hay rằng cả hai đối thủ trong cuộc thi hôm đó đều là đệ tử chân truyền của một đại cao thủ hiện đang ẩn thân trên hang Gió thuộc đỉnh Phan-xi-păng quanh năm mây phủ. Không chần chừ, chàng lại khăn gói quả mướp đem lễ vật leo núi tầm sư học đạo. Tới nơi, Văn gặp một cụ già lông trắng tóc xanh, gần như khoả thân đang múa hát giữa gió núi lồng lộng. Xung quanh hoa cỏ tưng bừng, chim thú tụ tập rất đông. Biết là kỳ nhân Văn vội đến quì lạy, hai tay nâng chiếc laptop cấu hình cực mạnh lên làm lễ vật, đoạn xin khấu kiến. Chỉ thấy ông già mỉm cười âu yếm, bước lại gần Văn hỏi: “Cậu xin học gì”. Văn đáp: “Xin học lập trình”. Ông già lại nhẹ nhàng hỏi: “Không có máy tính cậu có lập trình được không?”. Văn nghe vậy thì giật mình, run tay đánh rơi cả lễ vật. Chiếc laptop tuột khỏi tay lao thẳng xuống vực sâu muôn trượng vỡ tan như cát bụi. Ông già ngắm Văn một chặp rồi cười nói: “Cậu có kỹ năng, kỷ luật và sáng tạo tốt, chỉ còn thiếu duyên dáng”. Văn nghe vậy thì hoang mang quá, không dám ngẩng đầu lên. Ông già lại tiếp: “Con người vốn đã quen lập trình từ rất lâu trước khi có computer. Bác thợ săn lập trình cho đường tên mũi đạn, anh nông dân lập trình cho mùa vụ bội thu, đám thương gia lập trình cho đầu tư sinh lãi, các tình nhân lập trình để chăn gối giao hoan, bà nội trợ lập trình cho gạo cơm bếp núc, ông văn sĩ lập trình cho con chữ câu thơ. Thoảng hoặc có nhà tư tưởng vĩ đại lập trình cho phát triển của toàn xã hội, có vị hoàng đế hùng mạnh lập trình cho số phận của cả quốc gia… Chung qui lại cũng không thoát khỏi cái Chương trình lớn đã được lập trình sẵn bởi Tạo Hóa”. Văn bắt đầu ngộ ra, thưa: “Vậy lập trình không máy tính là thế nào?”. Ông già cười ha hả, đáp: “Người là máy, máy là người, khi không có máy thì mọi vật đều là máy, khi có máy thì máy cũng không còn là máy nữa. Làm sao tự lập trình được cho bản ngã mới là công quả vậy”. Cứ thế hai thày trò một người giảng giải, một người lắng nghe. Khát thì uống sương trời ngưng đọng. Đói thì ăn chim thú rán giòn. Chốc đà mấy thu đã trôi qua.

    Ba năm sau Tích Gia Văn từ biệt sư phụ hạ sơn về miền trung lập nghiệp, thành lập công ty du lịch lữ hành và khách sạn lớn nhất ở bãi biển Thiên Cầm thuộc huyện Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh. Hàng ngày nghe tiếng sóng gió lao xao, nhìn bờ cát trắng thoải dài, ngắm hai bờ đá núi xanh ngắt. Sáng lên non chạy đua chim bướm, chiều xuống biển lặn thi cá rồng. Lấy vợ đẻ con. Ngâm thơ uống rượu. Vào mùa khách khứa thì tất bật lo toan, những lúc rảnh rang thì chơi golf, tennis. Có điều lạ là Tích Gia Văn tuyệt nhiên không động đến máy tính, thiết bị, nối mạng, bảo mật, lại càng không bao giờ lập trình nữa. Thế mà thiên hạ ai cũng gọi Văn là Lập trình sư.
    Đại từ điển Bách khoa thư tiếng Việt, xuất bản năm 2056, trang 4581, dòng 21 có định nghĩa về Lập trình sư: “Là lập trình viên đẳng cấp cao, tự lập trình được cho bản ngã, chương trình chạy ít lỗi, tiết kiệm tài chính, bảo mật, an toàn trước tai họa và môi sinh, ổn định trước nổi trôi của thế cuộc, khiến cuộc sống bản thể thêm kỳ diệu lo âu mà huyền ảo, khiến xã hội thêm đa dạng rối ren mà phong phú“.
    Theo định nghĩa này thì Tích Gia Văn cũng đáng được gọi là Lập trình sư vậy.

    _____________________________________________________________________________________________

    Tản mạn về cái sự “lập trình” sau khi đọc “Lập trình sư”
    Để lại phản hồi Posted by KL on Tháng Tám 22, 2010

    Người ta kể rằng khi cuộc ganh đua giữa Mỹ và Liên Xô cũ đang ở đỉnh cao trong lĩnh vực công nghệ vũ trụ, có một lần Liên Xô phóng một con tàu không người lái vào thăm dò hệ mặt trời. Con tàu lên đến quỹ đạo và chuẩn bị đi tiếp thì tự dưng chệch hướng và bay mất tích vào vũ trụ bao la… Sau này, khi điều tra lại sự cố đó, các nhà khoa học Nga đã phát hiện ra rằng, phần mềm máy tính dùng để điều khiển chuyến bay đó đã có lỗi. Nghe đâu như chỉ thừa/thiếu một dấu chấm hay dấu phẩy gì đó trong một đoạn mã của lập trình viên, thế mà sự cố đã lập tức xảy ra, con tàu bay đi không ngày trở lại…

    Nhiều năm sau, khi Nga quyết định cho Trạm vũ trụ Hoà Bình “nghỉ hưu”, rất nhiều lo ngại đã xuất hiện, rằng cả một trạm vũ trụ cồng kềnh như thế mà nay đưa trở lại trái đất, nếu sai sót xảy ra thì sự thiệt hại khó mà lường hết được… Nhưng cũng có người lại hân hoan đón chờ sự kiện đó. Một vài bác nông dân ở Úc đại lợi thậm chí còn dọn dẹp quang quẻ cả một diện tích rộng lớn trên đồng cỏ của mình (chắc là chuột túi các bác ấy cũng chẳng cho bén mảng vào), và tìm cách thông báo với phía Nga, rằng mình “tình nguyện” mong muốn trạm Hoà Bình đã hết hạn sử dụng của Nga “hạ cánh” xuống đó, hy vọng điều đó sẽ thành hiện thực, bất chấp nhiều người cho rằng đó là một ý tưởng gàn dở (và nguy hiểm)… Thế nhưng người Nga không theo cách đó, họ đã khéo léo lập trình cho một số môđun không người lái bay lên, lắp ghép vào trạm Hoà Bình, kéo nó bay về khí quyển trái đất, và hạ xuống một vùng biển an toàn đã được dành riêng ở Nam Thái Bình Dương – xa các đồng cỏ của những bác nông dân Úc một khoảng cách tuyệt đối an toàn cho mọi người. Đã không hề có một sơ suất nào dù là nhỏ nhất (trong lúc cả thế giới nín thở lo lắng và nhiều chuyên gia Mỹ hồ nghi về trình độ “tự động hoá” của Nga liệu đã đạt đến đẳng cấp đó?). Người Nga đã không để lập lại sai lầm khi trước, và lần đó, lập trình viên của họ làm việc không chê vào đâu được…

    ……………
    Tự dưng, khi đọc xong “Lập trình sư” tôi lại nhớ tới những sự kiện đó, vì tôi vốn khoái những cái kiểu “vụ trụ”, “con người là một tiểu vũ trụ” kiểu như thế, hay còn vì gì nữa, tôi không rõ…

    Khi còn nhỏ, tôi ngưỡng mộ những người giỏi toán, lúc lớn dần lên tôi ngưỡng mộ nhất là Anhxtanh (ông cũng giỏi toán luôn). Tôi cũng chuyển qua thích thú cả Tin học và máy điện toán nữa – khoảng từ khi học Y khoa năm thứ 2. Rồi tôi lần lần được biết đến những cái như “câu lệnh”, “hàm”, “biến”, “cú pháp”… khi mon men đọc vài ba sách toán tin.

    Khi là sinh viên y năm thứ hai, tự dưng tôi quen biết với một anh chàng sinh viên khoa Lý trường Bách Khoa và có cơ hội chạm vào những cái máy “điện toán” thường xuyên hơn… nhưng “lập trình” vẫn là cái gì đó cao vời vợi và tôi phải vừa tự mày mò, vừa học lỏm của anh chàng khoa Lý.

    Đến Viện Năng lượng Nguyên tử Quốc gia, Viện Cơ học,v.v. những lần đầu (chả là có vài người họ hàng làm việc ở đó) tôi choáng ngợp vì cái không khí “khoa học cao siêu” bên trong các phòng máy tính. Ngày đó vẫn còn nhớ, ông anh họ tay múa trên bàn phím chiếc Olivetti, rồi quay sang giải thích cho tôi rằng anh ta đang lập trình mô phỏng bài toán xử lý nhiệt của lò phản ứng hạch tâm… cả cái gọi là “mô phỏng” lẫn “xử lý nhiệt của lò phản ứng” đều xa vời vợi, tôi chỉ thấy những đồ thị, sơ đồ lò màu sắc thay đổi trên màn hình, nhìn choáng. (Sau này, anh ấy đã lấy bằng tiến sĩ về vấn đề này tại một nước Đông Âu). Nhưng may cái là tôi nài nỉ được… vợ anh ta – bà chị dâu họ của tôi – vào một cuộc phiêu lưu lập trình. Hai chị em lọ mọ tiếp xúc với một công ty liên doanh với nước ngoài rồi vớ được một hợp đồng nhỏ, dùng FoxPro để lập trình quản lý. Dự án rất mệt mỏi, nhưng cũng kiếm được một ít tiền, cũng quí giá trong cái thời còn khó khăn ấy… nhưng dù sao, tôi cũng chỉ làm “điếu đóm” cho bà chị giỏi tin học mà thôi.

    Cho tới lúc vào học Bách Khoa, tôi thấy mọi sự lập trình của mình vẫn chỉ dấm dớ, và chả ra đâu vào đâu, xét về khía cạnh tính thực dụng của nó. Làm sao mà người ta cứ dạy chúng tôi đủ thứ ngôn ngữ lập trình, giải thuật, phương pháp tính, lý thuyết tối ưu, rồi công nghệ phần mềm như thế chứ… Nhồi sọ lý thuyết suông như vậy là một sai lầm lớn lao. Mà nào có phải mình tôi gánh chịu, một vài đồng chí học cùng tôi, sau này nghe đâu như cũng lên sếp to to tận bên FPT, mà cũng phải cắn răng vào học…

    Tới khi học sau đại học, vẫn như có duyên số với cái sự “lập trình”, một vài môn học về thống kê toán của tôi lại làm cho tôi một lần nữa phải đau đầu. Nhưng cái vụ này thì nan giải hơn những mớ lý thuyết suông ở Việt Nam ngày trước. Tuy vậy, tôi thấy mình có hứng thú hơn. Có lúc, ngồi vào một máy PC gõ những dòng lệnh lạch cạch, hiện lên một màn hình xanh xanh, dùng telnet nối tới một cái máy thuộc dòng máy tính lớn (mainframe) cách đó có khi vài ba cây số mà chỉ nghĩ tới thôi đã đủ thấy thinh thíc rồi, một chiếc RS6000 chạy hệ điều hành UNIX hẳn hoi ! Lắm lúc, chỉ là một bài toán mô phỏng đơn giản (lại “mô phỏng” nhưng tôi chỉ phải làm những bài tập bé bé về thống kê toán thôi, không làm ảnh hưởng gì tới hoà bình của nước Mỹ hay động chạm gì tới một lò phản ứng hạch tâm), nhưng cũng khiến cho cái RS6000 ở xa xa làm việc một lúc rồi mới nhả ra kết quả… tôi khoan khoái tận hưởng cái cảm giác ít ra thì đoạn chương trình SAS mình viết cũng đủ… phức tạp đến mức bắt được cái máy RS6000 chạy mất một lúc lâu lâu, không trả lời kết quả đánh xoẹt một cái như mọi khi.

    Chỉ đến khi làm luận án, tôi mới thấy cái “tư duy lập trình” đó dường như cũng có lúc dùng đến. Sau một hồi tranh luận, lắm khi cùng với một lúc mấy giáo sư, tôi nhận được một câu xanh rờn từ một bà giáo hướng dẫn, rằng tôi sẽ phải tìm cách chuyển dạng bộ dữ liệu DHS đó từ dạng truyền thống, sang một dạng khác. Nhiệm vụ đặt ra là phân tích đến từng chi tiết của những sự kiện trong lịch sử sinh con đẻ cái của gần 6000 phụ nữ Việt Nam để đưa ra “ánh sáng” những gì liên quan đến cái sự “vỡ kế hoạch” của họ (từ chuyên môn ta gọi là “mang thai ngoài dự định” – nghe thật chả hấp dẫn bằng những cái như “lò phản ứng hạch tâm” gì cả, nhưng là nghề của tôi). Bà giáo nói bằng cách gì không biết, nhưng nếu không phân tách được các sự kiện đó một cách cụ thể và khoa học từ cả một mớ bòng bong đó, thì tôi không thể làm gì được – vì bước tiếp theo – các phân tích thống kê cao cấp – cần phải dựa trên một bộ dữ liệu có cấu trúc hoàn toàn khác – nếu như tôi quyết tâm đi theo hướng nghiên cứu đó. Bà ấy có một vẻ ngoài hơi lành lạnh, chỉ hơn tôi vài ba tuổi và có sự tự tin của một phụ nữ còn trẻ nhưng đã sớm thành đạt. Bà ấy rất quí mến tôi, nằng nặc thuyết phục bằng được ông giáo sư chủ tịch hội đồng của tôi để ông đồng ý bổ sung thêm bà ấy vào danh sách hướng dẫn luận án cho tôi, dù lúc đó danh sách đã đầy đủ rồi. Nhưng về mặt chuyên môn, bà ấy luôn yêu cầu cao và nhất định không khoan nhượng, mặc dù bà cũng chưa hình dung ra cụ thể phải xoắn vặn cái dữ liệu đó thành hình thù ra sao cho thoả đáng, nhưng lại bắt tôi phải giải quyết được. Nghĩ mãi, tôi quyết định phải lấy các dữ kiện đã có sắp xếp chúng lại theo một trật tự mới. Ngần ấy người phụ nữ, trong bao nhiêu năm sống, đã có thai, nạo thai, lại có thai, đẻ con, dùng thuốc tránh thai, bỏ thuốc, lại có thai, nạo thai, đi đặt vòng, v.v. cứ như thế vô số khả năng xảy ra… Và phải tách bạch từng quãng nhỏ trong cả cuộc đời họ ra thành từng giai đoạn một, ứng với từng sự kiện… Tôi đi đến quyết định là phải viết cú pháp lệnh, rất nhiều lệnh, và phải làm đi làm lại trong cả một quãng đời của họ, và làm với từng người trong số họ, v.v. và thế là các dòng lệnh của một chương trình đã hiện ra,… từng dòng, từng dòng một, theo những trật tự mà bao năm nay tôi được học, rồi quên, rồi học lại, cằn nhằn vì những logic của nó, để rồi bây giờ những logic đó quay lại, giúp tôi vẽ nên những sơ đồ, lưu đồ, các giải thuật nho nhỏ cho từng trường hợp, rồi liên kết chúng lại thành một chương trình hoàn chỉnh… Sau khoảng vài tuần mày mò và viết (trên một phần mềm vốn không phải là một ngôn ngữ lập trình kinh điển), cuối cùng tôi có được bộ dữ liệu trải dài ra như mong muốn, và tiếp theo mới là phần việc chính của luận án: những bộ lệnh của các phép toán thống kê trên một phần mềm khác nữa để đưa ra những suy luận cuối cùng…

    những dòng lệnh ngày xưa…

    Khi bảo vệ xong luận án, bà giáo đó đã mềm tính hơn và bảo tôi, rằng thông thường bà không bao giờ đi xin học trò một bản luận án nào để cất vào tủ, có chăng là sinh viên làm xong thích thì tặng bà, bà nhận. Nhưng lần này, bà rất muốn tôi tặng một cuốn vì phần phụ lục của nó – bà nói thẳng – là đoạn chương trình đã được in ra đầy đủ và công khai, với đầy đủ cả những lời giải thích bên cạnh theo đúng cách mà các lập trình viên thường làm – mà bà rất muốn tham khảo và dùng tới sau này, vì đó là một cách làm rất mới đối với một bộ dữ liệu không hề mới…

    Có lẽ, đó là một sản phẩm của sự lập trình mà tôi ưng ý nhất, nó ra đời khoảng đúng 10 năm sau khi tôi mon men gõ những dòng cú pháp cho những bài tập lập trình đầu tiên… nó là mồ hôi tôi đã đổ ra, cật lực, rất tập trung, trong một khoảng thời gian không quá dài, để đổi lấy một cách nhìn hoàn toàn khác về những dữ kiện về đời sống tình dục và sinh đẻ của vô vàn người phụ nữ, những người “vô danh” bởi với tôi họ không có tên họ cụ thể nào, họ rải rác trên khắp đất nước Việt Nam… mà về cuối, chỉ còn hiện ra dưới dạng những ký hiệu toán học, những mã số…

    Đọc đến đoạn cuối của “Lập trình sư”, khi chàng trai bị đặt trước câu hỏi: “Không có máy tính, cậu có lập trình được không?” tôi vừa buồn cười, vừa suy nghĩ… Vẫn biết là câu chuyện mang nhiều tính trào lộng, hài hước, nhưng tôi chợt nhìn lại đời mình, thực sự cái gì đã xảy ra? Tôi đã làm được gì cho đời này?

    Là một bác sĩ, tôi hầu như không chữa chạy cho ai thật sự đầy đủ từ đầu chí cuối cả? ngoại trừ một số người tôi cứu chữa, góp phần cứu sống trong những ca trực, những phiên mổ thâu đêm suốt sáng khi còn là một cậu sinh viên y khoa, không có ai khác ?

    Là một kỹ sư tin học, mang cái danh đó tôi làm được ra sản phẩm tin học gì cho đời? ngoại trừ việc viết được vài dòng lệnh lăng nhăng suốt những tháng ngày học hành, cho tới một chương trình, tạm gọi là ưng ý để giải quyết được một số vấn đề “hàn lâm” và trước nhất là nó giúp tôi lấy thêm được một mảnh giấy khổ to có những dòng chữ viết kiểu cổ cổ và hoa mỹ như một vật chứng cho một “trình độ” học vấn… Tất nhiên, việc học để có một trình độ nhất định cũng là một thứ phải làm. Vả lại, để làm được những việc như bây giờ, tôi có thể biện minh là mình cần nhiều thứ (trong đó có bằng cấp). Và khi làm những việc này, tôi đã lớn dần lên, tôi đã và đang đóng góp vào một sự gì đó rộng lớn hơn, cho cả cộng đồng, không chỉ một vài con người cụ thể. Nhưng chừng đó dường như vẫn là tự bao biện…

    Ai đó đã “lập trình” để tôi làm tất cả những việc như vậy? ai là người khai báo biến trên một màn hình xanh xanh khổng lồ? để tên tôi chợt trở thành một biến số nào đó? cũng tựa như những ký hiệu mà tôi đã dùng cho các dòng lệnh của mình?

    Rồi hơn nữa, chúng ta làm gì trên đời này? Chúng ta loay hoay với những sự “lập trình” của riêng mình. Chúng ta được lập trình để cắm cúi học khi còn bé, để vượt qua vô vàn các kỳ thi, sát hạch, rồi kiểm tra… chúng ta lại quay lại, rao giảng, dạy lại những người đi sau làm những việc tương tự như thế…

    Nếu những lập trình viên của Nga ngày đó làm sai một trong những dòng lệnh hoàn hảo của họ, có thể trạm Hoà Bình thay vì rơi xuống biển an toàn, đã rơi vào một hòn đảo nho nhỏ nào đó, như là Vanuatu chẳng hạn – nói là nhỏ nhỏ nhưng đó là cả một quốc gia đấy – mặc dù cái đất nước bé nhỏ đó chỉ có rất ít dân cư, và cả nước nghe đâu chỉ có đúng 7 bác sĩ. Hoặc tệ hơn, rơi chệch sang phía tây, và vào một thành phố đông đúc như Sydney ? điều đó là rất có thể, vì họ chẳng đã từng mắc lỗi và để mất đứt cả một tàu thăm dò vũ trụ rồi còn gì?

    Nếu ngày đó tôi không kết thúc những dòng lệnh đó đủ hoàn hảo để bà giáo và cả hội đồng ưng ý, ngần ấy phụ nữ Việt Nam vẫn tiếp tục cuộc sống của mình, chẳng ai trong số họ mảy may nghĩ ngợi gì về nó hay biết đến những đoạn “do if… end if “ đó cả… Hơn thế nữa, nhiều người trong số họ – kể cả khi tôi có kết thúc cái “chương trình” mình đã viết cho máy điện toán và lấy được mảnh bằng – vẫn phải chịu đựng nhiều thiệt thòi… Nhiều người trong số họ chắc rồi cũng có lúc vẫn phải dứt ruột phá bỏ những giọt máu của mình, nhiều người chắc vẫn không được hưởng những dịch vụ y tế phù hợp, không được tư vấn để tránh được những điều không mong muốn… Đằng sau những mỹ từ, đằng sau những bài báo khoa học được quốc tế công nhận của tôi, những số phận phụ nữ như là vô danh đó vẫn phải có lúc biết đến sự đau khổ, chính là điều khiến tôi áy náy…

    Tôi không dám nói nhiều điều trên đời này là vô nghĩa, là vô vị, là vô ích, nhưng tự dưng tôi có cảm giác bất an, như thể nhiều điều quan trọng hơn, thiết thực hơn đã bị bỏ qua đi, vì chúng ta (có cả tôi trong đó) dành thì giờ, tâm sức cho những việc mà ta cứ tưởng là quan trọng lắm… kỳ thực có khi chỉ giúp ích cho một dúm người…

    … Tôi tưởng tượng cảnh mình leo mãi leo mãi lên đỉnh Phan-xi-păng như cái anh chàng trong truyện… tôi tự mình bật cười, khi nghĩ đến đoạn nếu mình là anh ta, nâng cao hai tay dâng tặng một chiếc laptop – ắt hẳn phải là MacbookPro như loại tôi đang dùng đây… và cụ già sẽ lại nói ra những điều làm tôi choáng váng…

    Tôi biết chắc nếu ngày mai mình đăng ký một tua du lịch mạo hiểm, hay du lịch sinh thái nào đó, thì sẽ có lúc tôi leo được lên đỉnh núi đó. Nóc nhà của Đông Nam Á chỉ cao chừng 3.143 mét mà thôi… có người sẽ nói lên cao như thế mệt lắm, không khí không có đủ dưỡng khí cho chúng ta thở vào,v.v. nhưng có hề gì. Xét về độ cao, tôi đã từng tới độ cao hơn 5.500 mét trên cao nguyên Tây Tạng mà chỉ sau một đêm ngủ dậy, tôi đã thấy khoan khoái và thở như dân bản địa rồi đó thôi… tất nhiên, để leo lên cao sẽ phải rèn luyện thêm về thể lực, không phải leo một phát lên ngay được. Nhưng chắc là được. Rồi tôi lại nhớ mình từng xem phóng sự về nhóm vận động viên Việt Nam chinh phục Everest. Đỉnh cao đó thì những 8.850 mét, cao nhất quả đất, nhưng có người vẫn lên được. Phải thừa nhận rằng nhìn họ, tôi thấy thèm được như họ, được làm một cái gì đó mạnh bạo, thoát khỏi cuộc sống đơn điệu hàng ngày … Rồi tôi nhớ tới cảm giác khi xưa chỉ đứng ở núi rừng miền Trung, nhưng vào một sớm mùa đông, lên đỉnh núi nhìn xuống dòng sông xanh ngắt bên dưới, hít một hơi dài đầy lồng ngực, có lẽ đến hàng lít không khí cuối đông lẫn với sương sớm nơi núi rừng bạt ngàn… tinh khôi và lòng khoan khoái…

    rặng Hy mã lạp sơn và đỉnh Everest mây phủ (ảnh: KL)

    Vậy nhưng cuộc đời xét cho cùng là gì? Mục đích của chúng ta là mơ mộng về những đỉnh cao? Rồi chinh phục chúng? Có lẽ tôi cũng nên tìm lên Phan-xi-păng một lần? để tìm thấy sự tĩnh lặng? tất nhiên tôi không hy vọng sẽ có một ông cụ nào đó đang thư thái lập trình trên đó, nhưng ít nhất để tôi đối diện với chính tôi?

    Anhxtanh vĩ đại đã lên đến đỉnh cao với Thuyết Tương đối, về cuối đời cũng đã rất cố gắng để phát triển Thuyết Trường thống nhất (Unified Field Theory) – một học thuyết được coi là nếu thành công sẽ còn kinh khủng hơn cả Thuyết Tương đối của chính ông trước đó – một đỉnh cao hơn nữa – như thể ta so Everest với Phan-xi-păng bé nhỏ… Và qua lý thuyết mới đó, ông đã cố gắng giải mã chính sự sáng tạo của Đấng Tạo hoá… Câu nói nổi tiếng của ông những năm đó là “Chúa không chơi trò súc sắc…”, vậy mà không thành… đến khi vĩnh viễn ra đi ông cũng chưa nhìn thấy thành quả gì của lý thuyết mới.

    Như anh chàng Văn trong truyện, âu cũng là muốn lên một “đỉnh cao” về lập trình? Và rồi ngộ ra đó lại không phải là điều đáng làm? Cái đáng làm là “lập trình” cho chính mình để có một cuộc đời thực đầy ý nghĩa? Một cuộc sống cân bằng, hài hoà? Cái đáng làm là điểu khiển “tiểu vũ trụ” – chính là chúng ta – những con người bé nhỏ trong cả vũ trụ bao la này (mà thậm chí, chỉ có một vũ trụ hay nhiều vũ trụ chúng ta còn chưa dám chắc, bởi theo nhiều lý thuyết gần đây – như string theory – rất có thể có nhiều vũ trụ đang tồn tại song song, thậm chí có nhiều “số phận” của từng người trong chúng ta !?)…

    Nếu ai đó từng xem phim “The bucket list” ắt sẽ nhớ cảnh hai người đàn ông đối ngược nhau về mọi thứ nhưng cuối cùng đã dành ra những ngày tháng cuối cùng của đời mình chiêm ngưỡng (phải dùng từ “chiêm ngưỡng” một cách trân trọng) những gì họ trước đây chỉ nghĩ đến như một ước muốn cao xa, cảnh họ giúp nhau nhận ra rằng mình đã để mất đi rất nhiều thời gian cho những việc vụn vặt, tầm thường, rằng mình lẽ ra đã có thể làm cho bao người thân hạnh phúc hơn, v.v.

    Phải chăng, tất cả điều đó đã được ai đó, ở đâu đó xa xôi, bằng cách nào đó, “lập trình” kỹ lưỡng đến mức đó, rồi vì những lý do nào đó, cất dấu những mã chương trình đó, vào những chỗ hay theo những dạng thức nào đó, để cho chúng ta phải làm gì đó, với sự thức tỉnh của ai đó, để nhận thức ra tất cả những điều đó…

    Liệu có ai đó có cùng suy nghĩ như tôi ? nếu đúng là như thế, có lẽ tất cả chúng ta nên cùng nhau làm điều gì đó để làm cho cuộc sống giàu ý nghĩa hơn?

    [ mở ngoặc :

    truyện ngắn “lập trình sư” mà tôi sưu tầm được trên Internet có tại đây:

    http://klfosb.wordpress.com/2010/08/22/laptrinhsu/

    sau khi viết tản mạn này một thời gian, nhằm ngày 01-01-2010 tôi đã tụ tập một nhóm bạn trẻ 8x, 9x cùng tôi leo Phan-xi-păng, chúng tôi đã lên đỉnh vào gần trưa ngày 02-01-2010… những suy nghĩ tản mạn mà cảm hứng có được từ chuyến đi đó có tại đây. Bây giờ, khi đã lên đó và quay về thì tôi biết rõ là ko có cao nhân nào ở đỉnh cao 3.143 m đó để dạy người đời lập trình cả (!), và tôi đã ngộ ra thêm nhiều điều…

    ]


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: