Tiêu chuẩn luận án TS

Dựa vào tiêu chuẩn gì để đánh giá một đề tài nghiên cứu xứng đáng cấp tiến sĩ? Trả lời câu hỏi này không dễ, vì cái hay còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố và quan điểm của từng chuyên ngành. Có người nói rằng một câu hỏi nghiên cứu hay là câu trả lời có thể ứng dụng trong thực tế. Tôi không đồng ý với nhận định này, bởi không phải nghiên cứu khoa học nào cũng có thể ứng dụng trong thực tế. Do đó, cách tiếp cận câu hỏi thế nào là một câu hỏi nghiên cứu hay, chúng ta cần phải có cái nhìn tổng thể. Một câu hỏi nghiên cứu tốt phải có 5 tiêu chuẩn gói gọn trong 5 chữ cái tiếng Anh: F I N E R (1):

F là feasible (tính khả thi)
I là interesting (tính thú vị)
N là novelty (có cái mới)
E là ethics (đáp ứng tiêu chuẩn đạo đức)
R là relevance (có ảnh hưởng)

Khả thi

Không phải ý tưởng nào cũng có thể thực hiện được, và không phải câu hỏi nào cũng có thể trả lời. Nhà nghiên cứu cần phải nhận thức được hạn chế trong thực tế ngay từ khi suy nghĩ đến câu hỏi nghiên cứu. Không nên tốn thì giờ và công sức khi đã làm nghiên cứu đến nửa chừng mới biết rằng công trình nghiên cứu không khả thi. Trong nghiên cứu lâm sàng và y học, tính khả thi có thể giải thích thêm qua 5 yếu tố: số lượng đối tượng, kĩ thuật, tài chính, và phạm vi.

Đối tượng. Nhiều nghiên cứu không thể thực hiện được đặt ra lúc ban đầu, vì nghiên cứu không thể nào tuyển dụng đủ số lượng đối tượng cho nghiên cứu. Có khi vì bệnh quá hiếm nên không cách gì có đầy đủ số bệnh nhân trong một thời gian ngắn (như 5 năm), và những công trình như thế rất khó khả thi. Do đó, bước đầu tiên trong nghiên cứu lâm sàng là ước tính cỡ mẫu hay số đối tượng cần thiết. Bước kế tiếp là ước tính số đối tượng có thể tuyển được, với tiên đoán trước rằng một số sẽ không thỏa mãn các tiêu chuẩn tuyển và một số sẽ bỏ nghiên cứu giữa chừng, cũng như một số sẽ mất liên lạc. Ngay cả lên kế hoạch một cách cẩn thận, nhiều nghiên cứu vẫn cho ra những ước tính quá lạc quan, và hậu quả là kết quả nghiên cứu rất khó diễn giải. Trong thực tế, đối với những nghiên cứu quan trọng, nhà nghiên cứu cần phải tiến hành nghiên cứu sơ bộ để đánh giá tính khả thi nếu triển khai ở qui mô lớn hơn hay phải điều chỉnh các tiêu chuẩn và qui trình nghiên cứu. Nếu số đối tượng không đủ, nhà nghiên cứu có thể nới rộng tiêu chuẩn chọn đối tượng, bỏ những tiêu chuẩn loại trừ không cần thiết, hoặc kéo dài thời gian tuyển đối tượng, hoặc hợp tác với các đồng nghiệp khác để tuyển thêm đối tượng.

Kĩ thuật. Các nhà nghiên cứu phải có nắm chắc kĩ thuật, có thiết bị hoặc phương tiện nghiên cứu, có kinh nghiệm thực hiện nghiên cứu, và có khả năng quản lí cũng như phân tích dữ liệu. Cách tốt nhất là làm quen với những công trình nghiên cứu trước, tìm hiểu kĩ qui trình và thiết bị của họ trước khi thiết kế nghiên cứu của mình. Nếu cần phải phát triển một phương pháp hay công cụ mới (như một bộ câu hỏi) cho nghiên cứu, nhóm nghiên cứu cần phải có người có chuyên môn tốt.

Kinh phí và thời gian. Nghiên cứu thực nghiệm cần kinh phí thích hợp. Do đó, cần phải ước tính kinh phí của một dự án nghiên cứu. Những kinh phí quan trọng liên quan đến nhân sự, thiết bị, phòng lab cần phải phác thảo và ước tính. Nếu nghiên cứu đòi hỏi một kinh phí quá cao, có thể phải thay đổi mô hình nghiên cứu, bằng cách xem xét đến những mô hình ít tốn kém hơn (và có thể giá trị khoa học cũng thấp hơn), hoặc tìm các nguồn tài trợ mới. Nếu nghiên cứu quá tốn kém và cần thời gian quá lâu, thì cần phải xem xét lại qui trình và các thiết kế mới.

Phạm vi. Kinh nghiệm thực tế cho thấy nhiều người mới bắt đầu nghiên cứu thường có quá nhiều “tham vọng”, họ muốn giải quyết tất cả các câu hỏi. Nhưng trong điều kiện hạn hẹp về kĩ thuật, thời gian và kinh phí, những tham vọng đó trở nên bất khả thi. Giải pháp cho vấn đề này là nhà nghiên cứu cần phải định nghĩa phạm vi nghiên cứu hẹp lại, câu hỏi cụ thể hơn và mục tiêu phải mang tính tập trung hơn. Nghiên cứu khoa học thường chỉ giải quyết một vấn đề, và phải có nhiều nghiên cứu mới đi đến một bức tranh tổng thể.

Thú vị

Nhà nghiên cứu thường có nhiều động cơ để theo đuổi một nghiên cứu khoa học. Những động cơ đó có thể là làm cơ sở để viết luận án, để thăng tiến trong sự nghiệp khoa bảng, để giúp bệnh nhân, để khám phá và khám phá dẫn đến nguồn lợi tài chính, hay lí tưởng hơn là đi tìm sự thật thú vị và cống hiến vào khoa học, v.v. Tôi thích động cơ sau cùng, vì đó cũng chính là động cơ để nhà khoa học tự thỏa mãn tính tò mò của mình và giúp các đồng nghiệp khác vượt qua những khó khăn trong quá trình nghiên cứu. Một câu hỏi nghiên cứu thú vị phải là câu hỏi có thách thức, làm cho đồng nghiệp phải thấy giật mình (vì họ chưa nghĩ đến). Tuy nhiên, cần phải bàn với thầy cô xem câu hỏi có thật sự thú vị trước khi tiêu ra thời gian để phát triển thành một đề cương.

Cái mới

Những nghiên cứu có giá trị thường đóng góp thông tin mới, dữ liệu mới. Một nghiên cứu chỉ đơn thuần lặp lại những gì người khác đã làm (tiếng Anh gọi là nghiên cứu me too) không xứng đáng để tốn tiền và công sức. Cái mới trong nghiên cứu có thể là mới về ý tưởng, mới về cách tiếp cận, mới về phương pháp, mới về kết quả, hoặc mới về cách diễn giải. Ngày nay, rất khó có một nghiên cứu hoàn toàn mới, mà chỉ mới trong một hay hai khía cạnh trên. Do đó, một câu hỏi nghiên cứu không cần phải hoàn toàn mới và nguyên thủy, nhưng cần phải có cách tiếp cận hay phương pháp mới. Câu hỏi nghiên cứu có thể là quan sát trước đây có thể lặp lại, hoặc phát hiện trước đây có thể áp dụng vào một quần thể di truyền khác, hoặc cải tiến phương pháp / kĩ thuật có thể làm rõ hơn mối liên hệ giữa các yếu tố nguy cơ và bệnh. Một nghiên cứu xác định có khi rất có ích nhất là nghiên cứu trước có nhiều khiếm khuyết.

Đạo đức

Một câu hỏi nghiên cứu hay phải là câu hỏi có đạo đức. Nếu nghiên cứu mang tính quá xâm phạm cơ thể bệnh nhân, hoặc phơi nhiễm bệnh nhân với các yếu tố nguy hiểm khó chấp nhận được thì không thể là có đạo đức được. Nếu chưa chắc chắn về nghiên cứu có vi phạm y đức và đạo đức khoa học hay không, nhà nghiên cứu cần phải thảo luận với thầy cô hay những người có kinh nghiệm, từng phục vụ trong các hội đồng y đức.

Ảnh hưởng

Không bao giờ đặt một câu hỏi nghiên cứu mà khi có câu trả lời nhà nghiên cứu chẳng biết phải làm gì với nó. Một trong những đặc điểm của một câu hỏi nghiên cứu tốt là tính liên quan, có ảnh hưởng. Có thể nói rằng tính ảnh hưởng là tiêu chuẩn quan trọng nhất của một câu hỏi nghiên cứu tốt. Một cách tốt nhất để xác định nghiên cứu có ảnh hưởng hay không là tưởng tượng đến những kết quả có thể thu thập được, và xem xét các khả năng mà kết quả đó có thể đóng góp vào sự phát triển kiến thức, hay ảnh hưởng đến thực hành lâm sàng, ảnh hưởng đến chính sách y tế, hay đóng góp vào việc soạn thảo phác đồ điều trị mới, hoặc mở ra một định hướng nghiên cứu mới.

Tiêu chuẩn FINER là cách mà chúng tôi dựa vào để đánh giá một đề cương nghiên cứu hoặc một đề cương cấp tiến sĩ. Trong thời gian gần đây, tôi có dịp giảng về nghiên cứu khoa học ở trong nước, và mỗi khi nhắc đến FINER, ai cũng rất thích thú vì thấy mới, nhưng ai cũng lắc đầu nói khó đáp ứng. Trong thực tế, không phải đề tài nào cũng đáp ứng 5 tiêu chuẩn FINER, nhưng ít ra một luận án tiến sĩ phải có gì đóng góp vào tri thức khoa học; nếu không thì khó có thể nói luận án đó xứng tầm tiến sĩ.

Trong thực tế Việt Nam, qui trình học tiến sĩ mới nhìn qua thì rất chặt chẽ và rườm rà, nhưng xem đầu ra thì rất ư là thất vọng. Trong cuốn “Việt Nam từ năm 2011” (Nxb Tri Thức 2011) Gs Trần Văn Thọ viết và tôi rất đồng ý: “Những vấn đề lớn của Việt Nam là hiểu chưa đúng về chuẩn mực của luận án tiến sĩ nói riêng và trình độ của người được cấp bằng tiến sĩ nói chung, cơ chế đào tạo quá lỏng lẻo, tiêu chuẩn của giáo sư hướng dẫn không được quy định nghiêm túc, chưa xác lập được cơ chế đánh giá khách quan về luận án tiến sĩ và suy nghĩ sai về ý nghĩa của văn bằng này.” (Trang 286). Ở một đoạn khác, anh Thọ viết: “Cách suy nghĩ về việc chọn đề tài ở Việt Nam chỉ làm cho luận án thiếu tính học thuật và phần lớn thiếu tính độc sáng. Nội dung, trình độ của luận án do đó còn rất xa mới đạt tiêu chuẩn tối thiểu của thế giới, và người được cấp bằng trong trường hợp đó khó có thể thảo luận khoa học với chuyên gia nước ngoài trong cùng ngành”. Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận xét trên.

Văn bằng tiến sĩ là một văn bằng quốc tế. Người có văn bằng đó phải chứng tỏ có trình độ, kĩ năng, và kiến thức tương đương với các tiến sĩ khác trên thế giới. Luận án tiến sĩ chỉ dựa trên 1 nghiên cứu duy nhất là luận án cử nhân hay cao học, chứ chắc chắn không phải là tiến sĩ. Ở nước ngoài (như nhóm của tôi chẳng hạn), một luận án tiến sĩ phải có ít nhất 3 nghiên cứu (2) (và thường phải công bố quốc tế). Hi vọng rằng tiêu chuẩn FINER sẽ đóng góp một phần vào việc chấn chỉnh đào tạo cấp tiến sĩ ở Việt Nam.

N.V.T

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: